Bỏ qua để đến nội dung chính
Thang Phan Research Editorial

PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TIỀN TỆ, GIẢM LÃI SUẤT.

Chính sách tiền tệ phải đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, an toàn hệ thống và hỗ trợ tăng trưởng

Ngày đăng14 thg 8, 2026
Thời gian đọc8 phút đọc
0:008:21

Từ đầu năm 2026 đến nay, thị trường tiền tệ và tín dụng ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn, đẩy dư nợ toàn hệ thống lên 20,26 triệu tỷ đồng (tăng 8,98% tính đến cuối tháng 7/2026). Áp lực thanh khoản ngắn hạn từng xuất hiện do lãi suất trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp, nhưng thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn căng thảng. Lãi suất cao, căng thẳng thanh khoản ngân hàng có thể ảnh hưởng đến tiếp cận vốn của DN và tăng truongr kinh tế năm 2026. Sáng ngày 13/8, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và hệ thống các tổ chức tín dụng. Thủ tướng chỉ đạo: "NHNN duy trì các mức lãi suất điều hành và tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp; điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường"[1] Bài này sẽ phân tích một số giải pháp để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, nhằm thực hiện: "chính sách tiền tệ phải đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, an toàn hệ thống và hỗ trợ tăng trưởng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số"

  1. Vấn đề nổi bật: căng thẳng thanh khoản ngân hàng

Tốc độ tăng tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi. Số liệu cho thấy, tính đến cuối tháng 7/2026:

  • Tổng tiền gửi: 18.677,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,75%;
  • Tổng tín dụng: khoảng 20.300 nghìn tỷ đồng, tăng 8,98%. Như vậy: tăng tín dụng nhanh hơn tăng huy động vốn Tỷ lệ Tổng tín dụng/Huy động vôn (LDR) lên tới quanh mức 108,7%. Lãi suất liên ngân hàng 3 tháng ngày 12/8 ở khoảng 7,8%/năm, trong khi lãi suất tái cấp vốn của NHNN thấp hơn đáng kể, thì đây là tín hiệu cho thấy: Giá vốn trên thị trường thực tế đang cao hơn nhiều so với lãi suất chính sách của NHNN Chứng tỏ thanh khoản hệ thống vẫn căng.

Câu hỏi là: Liệu các NHTM có khó khăn trong tiếp cận vốn từ cửa sổ chiết khấu của NHNN? Vì sao? Nếu ngân hàng thực sự thiếu thanh khoản nhưng có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn NHNN với chi phí thấp, chênh lệch này sẽ khó duy trì ở mức cao trong thời gian dài. 2. Giải pháp giảm lãi suất Giải pháp đúng là “bơm thanh khoản”, không phải “nới chuẩn tín dụng”. Vấn đề hiện nay của hệ thống ngân hàng là là: Tốc độ tăng trưởng Huy động vốn (Deposit growth) thấp hơn tốc độ tăng tín dụng (Credit growth). Do đó, việc yêu cầu ngân hàng cho vay nhiều hơn không giải quyết được vấn đề nguồn vốn, và cuối cùng đẩy lãi suất tăng lên. [

ghi chú1
]Không nên nhầm “room tín dụng” với “thanh khoản”. Nới room tín dụng không giúp tăng thanh khoản. Ví dụ: NHNN cho ngân hàng A thêm 2% room tín dụng nhưng ngân hàng A không có đủ nguồn vốn ổn định. Ngân hàng vẫn phải huy động thêm tiền gửi hoặc vay liên ngân hàng. Nếu toàn hệ thống cùng làm như vậy, s gia tăng nhu cầu huy động vốn, dẫn đến cạnh tranh lãi suất Deposit Competition -> Deposit Rate tăng -> Loan Rate tăng. Do đó: Tăng room tín dụng trong lúc thanh khoản căng có thể làm lãi suất tăng thay vì giảm_. Tăng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng không tạo ra thanh khoản Đây là điểm rất quan trọng. Giả sử ngân hàng có: 100 đồng tiền gửi ngắn hạn và được phép dùng tỷ lệ cao hơn để cho vay dài hạn. Điều đó không tạo thêm 100 đồng tiền gửi mới. Nó chỉ làm: maturity mismatch lớn hơn. Tức là: Dùng vốn ngắn hạn (Short-term liabilities) cho vay dài hạn (Long-term asset) tăng lên. Trong ngắn hạn có thể giúp ngân hàng cho vay thêm. Nhưng về dài hạn: có thể làm tăng rủi ro thanh khoản và tăng lãi suất (Liquidity Risk và: Interest Rate Risk đều tăng) Do đó đây không phải giải pháp căn bản cho căng thẳng thanh khoản.

  1. Giải pháp Nếu: Credit > Deposits

thì có ba cách cơ bản:

Cách 1 — Giảm tốc độ tăng tín dụng

Không phù hợp nếu nền kinh tế đang cần tăng trưởng cao.

Cách 2 — Tăng huy động

Có thể làm tăng lãi suất (Deposit Rate)và cuối cùng: tăng lãi cho vay (Loan Rate)

Cách 3 — Bổ sung thanh khoản hệ thống

Đây là điều NHNN có thể làm thông qua:

  • OMO;
  • repo tài sản đủ điều kiện;
  • các công cụ thanh khoản khác;
  • mua ngoại tệ khi điều kiện thị trường cho phép.

Đây mới là cơ chế phù hợp với mục tiêu: “giảm lãi suất thực chất”. Do đó, nếu thực sự có can thiệp bán ngoại tệ quy mô lớn để ổn định tỷ giá, nó có thể tạo thêm áp lực thanh khoản nội tệ.

Xử lý "Bộ ba bất khả thi-policy trilemma” Giảm cầu tín dụng bằng cách chuyển một số dự án PPP sang hình thức đầu tư công, mua lại một số dự án BOT như đề xuất ở bài trước.

NHNN hiện phải cân bằng các mục tiêu: giữa ổn định tỷ giá và lãi suất, giảm căng thẳng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Nếu muốn giữ VND quá ổn định: → có thể phải bán ngoại tệ -> VND liquidity giảm -> lãi suất tăng. Ngược lại: Nếu muốn bơm thanh khoản mạnh: lãi suất giảm. nhưng áp lực tỷ giá có thể tăng. Đây chính là lý do chúng ta không thể chỉ nhìn vào: lãi suất tái cấp vốn 4,5% mà kết luận rằng lãi suất thị trường phải thấp.

“Tỷ lệ tín dụng trên tiền gửi vượt 100%, cùng với việc tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi và lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao, cho thấy áp lực huy động vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng đang gia tăng.”

Và đây là điểm rất quan trọng đối với chính sách hiện nay. Nếu Chính phủ muốn tăng trưởng trên 10% thì không thể đồng thời yêu cầu, ngân hàng liên tục mở rộng tín dụng ở tốc độ cao mà không giải quyết bổ sung thanh khoản cho hệ thống NH và cuối cùng chính sách tín dụng lại tự làm tăng chi phí vốn.

Đây cũng là lý do đề xuất trong bài trước của tôi đối với các dự án PPP. Nếu các dự án hạ tầng lớn tiếp tục được tài trợ chủ yếu bằng kênh Tín dụng ngân hàng thì nhu cầu tín dụng tăng nhanh lầm tăng áp lực huy động vốn (Funding Stress) và tăng lãi suất huy động (Interest Rate). Trong khi đó, (i) nếu một số các dự hạ tầng được chuyển sang đầu tư công sẽ làm giảm cầu tín dụng; Giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. (ii) Trong điều kiện NSNN đang rải ngân khó khăn, xem xét, nghiên cứu phương án để mua lại một số dự án BOT quan trọng đủ điều kiện, đưa tiền nhàn dỗi trong hệ thống kho bạc Nhà nước trở lại lưu thông hệ thống ngân hàng (như đã đề xuất ở bài trước). Đây chính là thực hiện phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ mà chính phủ đang chỉ đạo.

Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi và lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao, ưu tiên trước mắt của NHNN nên là giải quyết ràng buộc thanh khoản thay vì tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bằng cách nới room, hạ chuẩn cho vay hoặc gia tăng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn. Những biện pháp này chủ yếu mở rộng khả năng tạo tín dụng trên bảng cân đối ngân hàng nhưng không tạo thêm nguồn vốn khả dụng cho hệ thống, thậm chí có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản và tín dụng. Chính sách phù hợp hơn là sử dụng linh hoạt các công cụ thị trường mở và các kênh cung ứng thanh khoản khác; đồng thời, khi điều kiện tỷ giá cho phép, việc mua ngoại tệ có thể vừa bổ sung dự trữ vừa đưa VND trở lại hệ thống ngân hàng. Về trung hạn, cần giảm sự phụ thuộc của đầu tư hạ tầng vào tín dụng ngân hàng, chuyển một phần sang bảng cân đối Nhà nước, qua đó giảm cầu tín dụng, hạ áp lực lãi suất và giải phóng nguồn vốn cho khu vực sản xuất kinh doanh.

Muốn giảm lãi suất thực chất, không thể chỉ ra lệnh cho ngân hàng giảm lãi suất; NHNN phải xử lý căng thẳng thanh khoản và cấu trúc (chênh lệch) kỳ hạn nguồn vốn, nguyên nhân đẩy lãi suất lên cao.

Tài liệu tham khảo: 1 Báo Chính phủ Chinhphu.vn